Saturday, December 10, 2016

Sản phụ tử vong sau mổ: BV đa khoa Phúc Yên thừa nhận thất bại?

Cái chết của sản phụ Nguyễn Thị Kha (SN 1976, ở xã Tiến Thịnh, Mê Linh, Hà Nội) sau khi sinh con tại Bệnh viện đa khoa Phúc Yên vào cuối tháng 11/2016 vẫn đang đặt ra cho gia đình cũng như những người quan tâm nhiều dấu hỏi lớn.

Bởi lẽ, theo gia đình, thời điểm trước và sau khi chị Kha nhập viện sinh con, sức khỏe của chị cũng như thai nhi hoàn toàn bình thường. Thậm chí gia đình còn thường xuyên đưa chị đi khám thai định kì và nhập viện trước để đảm bảo an toàn nhất cho mẹ và con.

Nhưng sau sinh, bác sĩ cho biết, chị bị tắc mạch ối. Chị tử vong 1 ngày sau khi được chuyển tuyến lên Bệnh viện Bạch Mai cấp cứu. Thời điểm chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai, theo gia đình, các bác sĩ ở đó cho biết, cơ hội sống sót của sản phụ Kha chỉ còn 1%.

Liên quan đến vụ việc trên ông Hoàng Minh Chiến - Giám đốc Bệnh viện đa khoa Phúc Yên ( Vĩnh Phúc) cho biết: "Cách đây hơn 2 tuần bệnh viện có tiếp nhận bệnh nhân Nguyễn Thị Kha sinh năm 1976 ( trú tại xã Tiến thịnh, Mê Linh, Hà Nội) vào bệnh viện để mổ đẻ. Đây là lần sinh đẻ thứ 4 của chị Kha".

Anh Hưởng bế con vụng về trên tay

Chia sẻ nỗi mất mát với gia đình nạn nhân, ông Chiến nói: "Sự việc xảy ra với sản phụ Nguyễn Thị Kha là điều mà bệnh viện và gia đình không ai mong muốn. Khi vào viện, qua thăm khám ban đầu, sức khỏe chị Kha và thai nhi bình thường và được các bác sĩ tại đây chỉ định cho đẻ mổ.

Trong quá trình mổ thì thấy chị Kha có các biểu hiện bất thường. Chúng tôi đã làm cấp cứu ban đầu. Bước đầu xách định chị Kha bị tắc mạch ối. Sau đó, chúng tôi đã chuyển thẳng bệnh nhân lên bệnh viện Bạch Mai để có phương pháp điều trị tốt nhất".

"Hiện tại, nguyên nhân tử vong chúng tôi đang chờ bệnh viện Bạch Mai đưa ra kết luận cuối cùng. Về phía bệnh viện, chúng tôi đã làm hết chức năng và nhiệm vụ đối với một bệnh nhân. Toàn bộ các bước thăm khám và kiểm tra là đúng quy định.

Đây là sự cố ngoài ý muốn, chúng tôi luôn đặt tấm lòng nhân ái và đạo đức lên đầu. Người mổ cho chị Kha hôm đó là bác sĩ trưởng khoa sản của bệnh viện chúng tôi”, ông Chiến nhấn mạnh.

Ông Chiến còn cho rằng, bệnh Viện đa khoa Phúc Yên sẽ cố gắng phân tích và xác minh nguyên nhân gây nên tử vong đối với sản phụ Kha.

“Khi họ gửi gắm người thân cho mình, vì 1 lí do gì đó chúng ta đừng đổ lỗi. Một cuộc chữa bệnh như thế là không thành công rồi, là thất bại của bệnh viện. Chúng ta phải tìm ra nguyên nhân, vì có những nguyên nhân bất khả kháng. Các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa Phúc Yên đã ngồi họp nhưng chỉ họp bước đầu và phía sau đó phải đợi thông tin từ Bệnh viện Bạch Mai.

Kết luận cuối cùng phải là hội đồng khoa học trả lời. Tình trạng bệnh nặng hay nhẹ chúng ta phân xử sau. Bây giờ làm thế nào để nỗi đau của gia đình dịu bớt”, ông Chiến chia sẻ.

Nói về quá trình cấp cứu bệnh nhân Kha tại Bệnh viện Bạch Mai, phía ông Chiến cũng xác định, để khám chữa thì các bác sĩ cho biết phải hạ thân nhiệt và lọc máu nhưng do bị vỡ mạch ối trong máu nên dù các bác sĩ đã nhiệt tình cứu chưa nhưng bệnh nhân Kha vẫn không qua khỏi. Trong suốt quá trình đó, phía Bệnh viện đa khoa Phúc Yên vẫn theo dõi rất sát sao tình hình bệnh nhân.

Ở một diễn biến khác, ông Chiến cho hay, sau khi bệnh nhân tử vong, bệnh viện cũng cử người tới thắp hương, phúng viếng và chăm sóc cháu bé tại Bệnh viện cho tới khi gia đình đón về. Đồng thời phía Bệnh viện cũng giao cho khoa thường xuyên liên lạc với gia đình.

Tuy nhiên, anh Đàm Văn Hưởng – chồng nạn nhân Kha cho hay, phía bệnh viện chỉ có hai người thuộc khoa sản tới phúng viếng với phong bì 5 triệu đồng vào ngày nhập quan chị Kha. Sau đó, bệnh viện không có bất cứ cuộc điện thoại nào hỏi thăm hay giải thích về nguyên nhân cái chết của vợ anh? Thậm chí, anh cũng không biết giám đốc là ai.

Hiện tại, anh Hưởng đang cảnh “gà trống nuôi con” với biết bao bộn bề, lo toan trong đó có cả sự vụng về. Hai con gái lớn đang học cấp 3, mẹ đã 85 tuổi bị tai biến nên cũng không phụ giúp cho anh được nhiều.

Phía gia đình anh Hưởng cũng mong sớm nhận được kết luận cuối cùng của bệnh viện về nguyên nhân cái chết của vợ anh để sự việc được sáng tỏ.

Nguyễn Huệ

Let's block ads! (Why?)

Toàn quốc kháng chiến và bài học về xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Cả dân tộc Việt Nam triệu người như một đã nhất tề đứng lên, anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Đây là cuộc tổng giao chiến đầu tiên của chiến tranh cách mạng Việt Nam, diễn ra đồng loạt trên các đô thị, với sự tham gia phối hợp, hưởng ứng của quân và dân cả nước.

Bảy thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như: Chính trị-xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng, quốc phòng, an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định, nâng cao. Thành quả đó bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó, những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ toàn quốc kháng chiến là nhân tố đặc biệt quan trọng, hàm chứa giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, quý báu đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Những bài học đó là:

Thứ nhất, sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đúng đắn, sáng tạo

Trong bất kỳ cuộc cách mạng nào, vấn đề xác định chủ trương, đường lối đúng đắn cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu quyết định đến thắng lợi của cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, do sớm hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc, tranh thủ khai thác được sự ủng hộ và giúp đỡ bè bạn quốc tế đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam. Không phải đến thời điểm mở đầu toàn quốc kháng chiến, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh mới xác định đường lối kháng chiến mà điều đó đã được từng bước hình thành ngay sau khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn để mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai (23-9-1945). Trong Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25-11-1945), Đảng ta đã xác định “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”(2), “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(3). Trên cơ sở đó, chủ trương của Đảng ta là: “Động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp pháp triệt để”(4).

Ngày 19-10-1946, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng nhận định: “Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”(5). Tiếp đó, để có quyết định kháng chiến toàn quốc kịp thời, từ ngày 5-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ”, nêu rõ chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc và đường lối trường kỳ kháng chiến. Chủ trương này được cụ thể hóa trong Chỉ thị toàn dân kháng chiến (12-12-1946), trong đó nhấn mạnh mục đích của cuộc kháng chiến là nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc và phát triển chế độ dân chủ nhân dân; tính chất của cuộc kháng chiến là dân tộc độc lập, dân chủ tự do; nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho nước nhà.

Vận dụng bài học này vào quá trình xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay, chúng ta cần sớm chủ động hoạch định đường lối đúng đắn, sáng tạo; tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều hành đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân; kịp thời chuyển hóa thế trận quốc phòng toàn dân thành thế trận chiến tranh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Với vai trò là chủ thể lãnh đạo, mặt khác xuất phát từ tính đặc thù của lĩnh vực quân sự, quốc phòng, Đảng phải tiếp tục thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân; trong đó, trực tiếp quyết định chủ trương, đường lối và lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong mọi hoạt động. Những chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân phải được quán triệt sâu sắc đến mọi cấp, mọi ngành, cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn quân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc quản lý, điều hành xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung, đối với quản lý Nhà nước về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc nói riêng là vấn đề có tính nguyên tắc, cần được củng cố và tăng cường.

Bài học về sớm hoạch định chủ trương đường lối kháng chiến và kiến quốc đúng đắn, sáng tạo trong những ngày mở đầu toàn quốc kháng chiến là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, còn nguyên giá trị vận dụng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân giai đoạn hiện nay. Bởi chỉ có như vậy chúng ta mới tạo ra tiềm lực mọi mặt của nền quốc phòng toàn dân, qua đó tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”(6). Truyền thống đoàn kết, yêu nước đó tiếp tục được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khơi dậy thông qua “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” và Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”; trong đó, nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”(7).

Nhờ vậy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy cao độ được lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của toàn dân, toàn quân, quyết chiến, quyết thắng chống lại kẻ thù xâm lược. Bằng sức mạnh tổng hợp đó, chúng ta đã kìm được chân địch ở lại trong các đô thị một thời gian khá dài, tạo điều kiện cho các cơ quan của Trung ương, Chính phủ và các tổ chức di chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, ngày nay, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng bài học kinh nghiệm về phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng và phát huy mọi tiềm lực chính trị, tinh thần, kinh tế, quân sự, văn hóa-xã hội và khoa học-công nghệ của nền quốc phòng toàn dân.

Để xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, trước hết, cần chú trọng xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở. Trong đó, vấn đề cốt lõi là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tăng cường công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là các tổ chức cơ sở đảng, nơi trực tiếp lãnh đạo công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Đặc biệt, trong công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, cần tập trung quán triệt, tuyên truyền quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời, nâng cao nhận thức cho nhân dân về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”. Thông qua đó, bồi đắp tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo sự đồng thuận của toàn dân đối với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Xây dựng tiềm lực quân sự là khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong cả thời bình và thời chiến. Tiềm lực quân sự là nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng trên nền tảng của tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế và tiềm lực khoa học và công nghệ. Tiềm lực quân sự không chỉ thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang mà còn biểu hiện ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm vụ quân sự quốc phòng.

Tiềm lực quân sự còn thể hiện ở khả năng động viên công nghiệp, nông nghiệp, khoa học-kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ công cộng khác để đáp ứng yêu cầu quốc phòng. Xây dựng tiềm lực quân sự được gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa tư tưởng... là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Nhà nước Việt Nam chủ trương gắn việc xây dựng tiềm lực quân sự với việc xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học và công nghệ, coi đó là yêu cầu tất yếu trong xây dựng tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm khả năng huy động tạo thành sức mạnh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Đối với tiềm lực kinh tế, chúng ta phải xây dựng tiềm lực kinh tế gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng trên từng khu vực, địa bàn và cả nước. Đây là nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong tăng cường sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Điều đó có nghĩa là, xây dựng kinh tế không chỉ nhằm tăng trưởng kinh tế của từng vùng, khu vực, địa phương mà còn cần được gắn với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh trên các địa bàn, nhất là ở địa bàn chiến lược trọng yếu. Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững tạo điều kiện vật chất cho nền quốc phòng.

Cùng với đó, cần coi trọng xây dựng tiềm lực văn hóa, khoa học-công nghệ, trong đó tập trung xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc. Cần coi trọng giáo dục các thế hệ con người Việt Nam biết trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống, giàu tính nhân văn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.

Mặt khác, cần tập trung xây dựng tiềm lực khoa học-công nghệ theo hướng tự chủ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời, đẩy mạnh phát triển khoa học kỹ thuật-công nghệ quân sự theo hướng phục vụ kịp thời, hiệu quả những yêu cầu về bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang. Đặc biệt, phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng để có thể sản xuất, chế tạo nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại, trực tiếp góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu tác chiến đánh bại kẻ thù tiến hành chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Thứ ba, tạo lập và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc

Trước những hành động mới của kẻ thù, ngày 13-12-1946, Hội nghị các khu trưởng họp tại thị xã Hà Đông đã quyết định: “Phải chuẩn bị cấp tốc để tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ”, vạch kế hoạch tác chiến chung và phương án phá hoại, làm “vườn không nhà trống”. Trong hội nghị này, Bộ Tổng chỉ huy giao nhiệm vụ tác chiến cho Khu 11 tiêu diệt một bộ phận quân Pháp ở Hà Nội, tích cực bám đánh, giam chân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị kháng chiến; Khu 2 tiến công địch ở Nam Định, đánh quân tăng viện cho Nam Định bằng đường bộ và đường thủy; Khu 3 tiến công địch đóng ở thị xã Hải Dương và cầu Phú Lương, cầu Lai Vu, bao vây địch ở Hải Phòng, cắt đường bộ Hải Phòng - Hà Nội; Khu 12 đánh địch ở Bắc Giang, Bắc Ninh, bao vây địch ở Lạng Sơn, cắt đường bộ Lạng Sơn - Hà Nội; Khu 4 đánh địch ở Vinh, Huế, đánh địch tăng viện từ Đà Nẵng ra, cắt đường bộ Đà Nẵng - Huế; Khu 5 tiến công và giam chân địch ở Đà Nẵng, cắt đứt đường bộ Huế - Đà Nẵng; các chiến trường cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ có nhiệm vụ phát động chiến tranh du kích, tích cực tiến công địch, giam chân, gây khó khăn cho chúng trong việc tăng viện ra Bắc.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, bộ chỉ huy các khu, các thành phố, thị xã đã khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến và tiến hành chuẩn bị về mọi mặt. Nhờ đó, khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, mặc dù điều kiện chiến đấu không cân sức song bằng thế trận được tạo lập và xây dựng vững chắc, chúng ta vẫn tổ chức thành công những đợt tác chiến và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhất là tác chiến trong các đô thị. Tại thủ đô Hà Nội, không gian và thời gian của các đợt tác chiến đã vượt ra ngoài phạm vi của từng trận cụ thể; nhiều trận đánh ác liệt, diễn ra đồng thời và kế tiếp có tác dụng hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu chung của các cấp chiến lược. Kết quả trong chiến đấu, chúng ta đã giam chân địch ở thành phố Đà Nẵng và vùng ngoại ô kéo dài 1 tháng; ở Huế kéo dài 50 ngày; ở Nam Định kéo dài gần 3 tháng; ở Hà Nội kéo dài trong 60 ngày đêm...

Trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân hiện nay, bài học về tạo lập và xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc để chống lại kẻ thù xâm lược trong toàn quốc kháng chiến vẫn vẹn nguyên giá trị. Bởi thế trận là một trong những nội dung cốt yếu của nền quốc phòng toàn dân. Hơn nữa, thế trận chiến tranh chính là thế trận quốc phòng thời bình, khi đất nước có chiến tranh chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Do đó, trước yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta phải coi trọng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, trước hết là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, từng địa phương và trên phạm vi cả nước.

Các cấp, các ngành, các địa phương và lực lượng vũ trang cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc” và Nghị định số 152/2007/NĐ/CP ngày 10-10-2007 của Chính phủ về “Khu vực phòng thủ”; đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội gắn với quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ. Trong đó, chú trọng bổ sung quyết tâm, kế hoạch, phương án tác chiến phòng thủ; đầu t­ư kinh phí để thực hiện Đề án xây dựng thế trận quân sự, mà trọng tâm là nâng cấp, quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng, các căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu cần-kỹ thuật. Quá trình xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân phải đặc biệt coi trọng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở bằng các chủ trương, chính sách hợp lòng dân và các chương trình, dự án; góp phần xóa đói, giảm nghèo, củng cố lòng tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quá trình xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng khu vực phòng thủ trên từng địa bàn, từng hướng chiến lược cần quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm của Đảng về kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo”(8). Sự kết hợp đó phải được thể hiện ngay từ quy hoạch tổng thể, trong kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương, từng ngành, nhằm bảo đảm mỗi bước phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là một bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh. Các địa phương, đơn vị quân đội cần tăng cường chỉ đạo, phát huy hiệu quả hoạt động của các đoàn kinh tế-quốc phòng, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, bảo vệ vững chắc địa bàn, tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo.

Thứ tư, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến

Sau khi ra đời, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đặc biệt coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh làm nòng cốt để bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngay từ Hội nghị quân sự toàn quốc (10-1946), Đảng ta đã xác định, xây dựng lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, thực hiện chủ trương quân sự hóa toàn dân, vũ trang hóa toàn dân của Đảng, hàng triệu nam, nữ thanh niên đã hăng hái tham gia dân quân tự vệ, trong đó có hơn 8 vạn người tình nguyện xung phong gia nhập Vệ Quốc đoàn. Nhờ đó, lực lượng vũ trang từ chỗ chỉ có khoảng 5.000 người (8-1945), đến tháng 12-1946 đã có hơn 85.000 cán bộ, chiến sĩ, được tổ chức thành 27 trung đoàn ở miền Bắc và 30 đơn vị vũ trang tập trung cấp chi đội và tiểu đoàn ở Nam Bộ, tăng gấp 70% so với cuối năm 1945(9). Ngay tại Hà Nội, chưa đầy một tháng sau ngày Toàn quốc kháng chiến, trung đoàn đầu tiên mang tên Trung đoàn Thủ Đô đã ra đời, sau đó là Trung đoàn 52 và Trung đoàn 48 được thành lập. Các đơn vị lực lượng vũ trang cùng với khoảng 2 triệu dân quân du kích và tự vệ là lực lượng nòng cốt, quan trọng, quyết định đến thắng lợi của toàn quốc kháng chiến và cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong giai đoạn cách mạng mới, bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến càng có ý nghĩa sâu sắc. Trên tinh thần đó, chúng ta cần xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X, nhiệm kỳ (2015-2020), toàn quân cần tiếp tục thực hiện tốt Đề án tổ chức lực lượng, bảo đảm tinh, gọn, mạnh, phù hợp với nghệ thuật quân sự và vũ khí, trang bị; phát triển cân đối giữa các lực lượng, phù hợp với thế trận phòng thủ trên các vùng, miền của đất nước. Trong đó, ưu tiên quân số cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, đơn vị đóng quân ở vùng trọng điểm về quốc phòng, an ninh, nơi biên giới, biển đảo. Tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội, nhất là các lực lượng đã được xác định tiến thẳng lên hiện đại. Củng cố tổ chức các đoàn kinh tế, quốc phòng trực thuộc bộ và các quân khu cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; bảo đảm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng cường quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn đứng chân.

Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng lực l­ượng dự bị động viên hùng hậu, bảo đảm chất lượng, nhất là chất lượng về chính trị, khả năng tác chiến chiến thuật, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, tập trung thực hiện tốt công tác quản lý con ng­ười và phương tiện, trang bị; thực hiện tốt kế hoạch huấn luyện, kiểm tra sẵn sàng động viên hằng năm; có kế hoạch động viên công nghiệp phù hợp, bảo đảm tận dụng được thành tựu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đồng thời, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo phương châm vững mạnh, rộng khắp; có số lượng hợp lý, chất l­ượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng chính trị; tổ chức biên chế tinh, gọn, chặt chẽ; trang bị, vũ khí phù hợp; đ­ược giáo dục chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự toàn diện, thiết thực, từng bước nâng cao khả năng chiến đấu, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở địa phương, cơ sở.

Có thể khẳng định rằng, Toàn quốc kháng chiến đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi về tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường của nhân dân Việt Nam trong thế kỷ 20. Thời gian đã lùi xa, nhưng những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ Toàn quốc kháng chiến, đặc biệt là những kinh nghiệm về việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị. Hơn lúc nào hết, cùng với việc phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp sức mạnh nội lực và ngoại lực, thì việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm được đúc kết từ Toàn quốc kháng chiến để xây dựng nền quốc phòng toàn dân là hết sức cần thiết; góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Trung tướng LÊ CHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

-------------------

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.480.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.26.

(3) Sđd, tr.26.

(4) Sđd, tr.27.

(5) Sđd, tr.133.

(6) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.171.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.480.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.149.

(9) Báo cáo tổ chức xây dựng lực lượng năm 1946, lưu Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Hồ sơ số 54.

Theo QĐND

Let's block ads! (Why?)

Ai phải chịu trách nhiệm vụ khai thác đất sát sân bay Nội Bài?

Chiều ngày 5/12, Công an Hà Nội bắt giữ hàng chục công nhân cùng 3 chiếc máy xúc đang hoạt động múc đất lên 19 xe tải hạng nặng (loại xe “hổ vồ”), đang khai thác đất trái phép với quy mô lớn, ngay sát sân bay Nội Bài tại địa bàn hai xã Mai Đình, Quang Tiến (huyện Sóc Sơn, Hà Nội).

Hiện trường vụ khai thác đất trái phép.

Điều đáng nói, mặc dù việc khai thác đất trái phép diễn ra trong một thời gian dài nhưng chính quyền địa phương lại không hề hay biết khiến dư luận nghi vấn có sự bảo kê. Câu hỏi đặt ra, ai sẽ phải chịu trách nhiệm về việc này?

Trao đổi với PV báo Người Đưa Tin, ông Nguyễn Văn Thắng - Chủ tịch UBND xã Mai Đình (Sóc Sơn, Hà Nội) cho biết: “Khu vực khai thác đất trái phép gần sân bay Nội Bài nằm hoàn toàn trên phần đất thuộc quân đội quản lý nhưng địa giới hành chính thì lại thuộc UBND xã Quang Tiến”.

Các đối tượng khai thác đất đã dùng xe tải hạng nặng vận chuyển từ bãi đất đi khoảng 1km ra tới QL3 cũ, đi qua địa bàn xã Quang Tiến nên chúng tôi không nắm được”.

Dấu vết khai thác đất để lại ở hiện trường.

Liên quan tới vụ việc trên, trao đổi với PV, lãnh đạo UBND huyện Sóc Sơn cho biết: “UBND huyện đã nắm được vụ việc và đang chờ kết quả điều tra từ cơ quan công an và các ngành liên quan để xem khu đất bị các đối tượng khai thác thuộc đơn vị nào quản lý, sau đó mới có thể xử lý theo quy định của pháp luật”.

Trong một diễn biến khác, ông Lê Xuân Dũng - Chủ tịch UBND xã Quang Tiến cho rằng, khu đất bị khai thác trái phép có lý lịch khá phức tạp. Về nguồn gốc thì đây là đất quốc phòng đã được đổi cho nhân dân thôn Xuân Bách từ những năm 1980.

Hiện trường được đào sâu tới 20 - 30 mét.

Ông Dũng cho biết: “Do thời điểm đó việc quản lý hồ sơ đất đai còn khá sơ sài nên hiện nay xã không lưu được giấy tờ gốc mà chỉ nghe những cán bộ tiền nhiệm… kể lại. Địa giới hành chính thì trên bản đồ vẫn thể hiện nó thuộc sự quản lý của xã Mai Đình. UBND xã Quang Tiến cũng chưa nhận được văn bản nào từ cấp trên bàn giao chính thức cho xã quản lý”.

Nói về việc trách nhiệm, vị lãnh đạo xã cho hay, hiện nay chưa thể quy trách nhiệm cho xã Quang Tiến về tình trạng khai thác đất trái phép do xã quản lý được vì địa giới hành chính vẫn chưa rõ. Chủ đất là người của địa phương nhưng phần đất của ông ta được giao lại nằm trên địa bàn xã Mai Đình cho nên xã Quang Tiến cũng không đủ thẩm quyền để xử lý và ngăn chặn.

Thế Anh

Let's block ads! (Why?)

Home Credit khuyến mãi lớn cuối năm

Đây là chương trình kích cầu mua sắm lớn nhất, kéo dài suốt mùa Lễ hội trong năm nay (Giáng sinh, Tết Dương lịch, Tết Cổ truyền và ngày lễ Tình nhân Valentine). Thời điểm này chính là mùa mua sắm cao điểm tại các Trung tâm điện máy, các cửa hàng điện thoại, xe máy… trên khắp cả nước.

Khách hàng tìm hiểu chương trình vay trả góp tại Home Credit

Theo đó, khi ký hợp đồng vay trả góp mặt hàng điện máy, điện tử, xe máy và dịch vụ cho vay tiền mặt của Home Credit trong thời gian khuyến mãi, ngoài việc nhận được quà trực tiếp, khách hàng sẽ được tham gia quay số trúng thưởng để có cơ hội trúng một trong các giải thưởng hấp dẫn. Chương trình được áp dụng tại hơn 6,500 điểm giới thiệu dịch vụ của Home Credit trên 63 tỉnh thành toàn quốc.

Cơ cấu giải thưởng bao gồm: 05 giải nhất trị giá một lượng vàng SJC mỗi giải, 10 giải nhì là phiếu mua sắm tại Điện Máy Xanh trị giá 10.000.000 đồng và 100 giải ba trị giá 1.000.000 (tặng vào khoản trả hàng tháng của khách hàng). Chương trình sẽ chia ra thành 2 đợt bốc thăm trúng thưởng với đợt 1 diễn ra vào ngày 09.01.2017 cho các khách hàng ký hợp đồng từ ngày 01.12.2016 đến 31.12.2016 và đợt 2 diễn ra vào ngày 23.02.2017 cho các khách hàng ký hợp đồng từ ngày 01.01.2017 đến 15.02.2017. Thông tin người thắng giải sẽ được công ty công bố rộng rãi trên địa chỉ website và fanpage của công ty.

Tất cả khách hàng khi ký hợp đồng từ 01/01/2017 đến 31/01/2017 sẽ được nhận ngay 1 xấp bao lì xì Tết hoặc 1 móc khóa Thần Tài cao cấp.

Thủ tục vay mua trả góp các sản phẩm với Home Credit đơn giản: khách hàng chỉ cần có CMND, hộ khẩu (hoặc bằng lái xe cho khoản vay tối đa đến 10 triệu đồng) và trong vòng 10 phút sẽ biết kết quả duyệt khoản vay của mình.

Trần Thắng

Let's block ads! (Why?)

Nhân dân tệ suy yếu, lựa chọn nào cho Bắc Kinh?

Lao dốc

Guan Qingyou, chuyên gia cao cấp tại hãng thông tin Minsheng Securities, hồi đầu tháng 11 cam kết với khách hàng rằng tỉ giá CNY/ USD (tỷ giá Nhân dân tệ - NDT) có thể ở trên mức 6,82 trong những ngày cuối năm.

Chưa đầy một tuần sau, ngày 18/11, đồng NDT chốt phiên ở 6,8796 NDT đổi 1 USD - mức thấp nhất trong hơn 8 năm qua sau chuỗi 11 ngày giảm liên tiếp.

Vị chuyên gia uy tín sau đó đã phải xin lỗi khách hàng, nhấn mạnh việc dự đoán chính xác diễn biến của NDT hiện nay gần như là không thể.

Phần lớn thị trường đều nhận định đồng NDT sẽ tiếp tục đi xuống so với đồng bạc xanh (chốt phiên 4/12 giảm 0,11% xuống 6,887 NDT ăn 1 USD); tuy nhiên với tốc độ và biên độ như thế nào thì không ai dám khẳng định chắc chắn.

Có một thực tế không thể phủ nhận là Trung Quốc đã và đang nỗ lực quốc tế hóa đồng nội tệ của mình bằng cách áp dụng cơ chế tỉ giá mới từ năm ngoái, để các lực lượng thị trường giữ vai trò lớn hơn trong việc thiết lập tỉ giá tham chiếu NDT. Theo đó, đồng NDT được áp dụng biên độ dao động cho phép ở mức +-2% so với tỷ giá tham chiếu công bố hàng ngày, ngoài ra, ngân hàng nước ngoài cũng tham gia vào hệ thống giao dịch nội địa và tăng gấp đôi số giờ giao dịch.

Những động thái quyết liệt trên góp phần giúp NDT trở nên linh hoạt hơn và được thế giới thừa nhận bằng sự kiện đồng tiền này gia nhập rổ tiền SDR hồi tháng 10 vừa qua.

Mặc dù vậy, quốc tế hóa đồng nội tệ cũng có nghĩa rằng Bắc Kinh chấp nhận “luật chơi” trên thị trường tài chính toàn cầu. Đô la Mỹ mạnh lên đáng kể trong hai tháng qua khiến NDT, như phần lớn nội tệ trên thế giới, đều chuyển động ngược chiều so với đồng bạc xanh.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) muốn sự mất giá này diễn ra một cách có kiểm soát, và họ đủ khả năng để làm vậy. Trên thực tế, so với những đồng tiền chủ chốt khác, Nhân dân tệ diễn biến khá ổn định kể từ đầu tháng 10.

Song để duy trì được sự ổn định, Bắc Kinh đã và đang phải trả cái giá không hề rẻ. Dự trữ ngoại hối của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã “bốc hơi” tới 6,3% từ đầu năm và gần 18% so với đầu năm ngoái, rơi xuống còn 3.120,7 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ năm 2011.

Tương lai của đồng Nhân dân tệ giờ phụ thuộc câu hỏi: Liệu Bắc Kinh còn đủ lực để theo đuổi mục tiêu của họ, giúp NDT thoát khỏi một cú “hạ cánh cứng”, hay một kịch bản 2015 sẽ lặp lại.

“Ngã ba đường”

Năm 2015, đồng NDT mất giá kỷ lục trong hơn 2 thập kỷ, cuốn phăng 513 tỷ USD dự trữ ngoại hối của Bắc Kinh, tạo ra một dòng lưu chuyển vốn khổng lồ chảy ra nước ngoài, khi mà giá trị đồng Nhân dân tệ không còn hấp dẫn trong mắt giới đầu tư.

Chiều hướng tiêu cực trên phần nào dịu đi trong năm 2016. Tuy nhiên theo tờ Economist, một lượng không nhỏ giới đầu tư đang thực hiện nghiệp vụ vị thế ngắn (Short Position – bán trước mua sau) đối với đồng NDT trên các thị trường ngoài Đại lục.

Bắc Kinh dĩ nhiên không thích điều này, bởi nghiệp vụ short position sẽ tạo áp lực giảm giá đối với NDT. Trên thực tế, PBOC đã và đang tác động khiến việc vay mượn NDT (một phần trong nghiệp vụ short position) ở các thị trường quốc tế trở nên khó khăn hơn; đồng thời tăng cường kiểm soát các dòng chảy vốn để hỗ trợ giá trị NDT trong nước.

Nếu giới đầu tư quốc tế đang duy trì con mắt tiêu cực đối với đồng NDT, thì không khí ở Đại lục thậm chí còn ngột ngạt gấp bội. NDT đã mất giá 6% trong năm nay, cách ngưỡng tâm lý 7 NDT ăn 1 USD không xa. Giới đầu tư theo đó muốn đa dạng hóa danh mục tài sản của họ sang các đồng tiền khác để giảm thiểu rủi ro.

Các nhà điều hành Trung Quốc hiện đang phải cùng lúc “chiến đấu” trên nhiều mặt trận, nhằm làm chậm dòng chảy vốn ra ngoài, bằng cách giới hạn đầu tư ra thị trường tài chính quốc tế. Bắc Kinh hồi đầu tháng vừa siết chặt quy định mua bán tài sản ở nước ngoài, nghi ngờ một bộ phận không nhỏ các thương vụ đầu tư ra thị trường quốc tế ngoài thực chất là để che dấu mục đích chuyển tiền ra khỏi Đại lục.

PBOC cũng liên tục phải dùng tới lượng dự trữ ngoại hối vốn đã bị bào mòn mạnh để hỗ trợ đồng NDT. Trong một công bố chính thức, cơ quan này cho hay đã bán ra trung bình 10 tỷ USD mỗi tháng kể từ đầu năm. Tuy nhiên hãng tư vấn nổi tiếng Logan Wright of Rhodium cho rằng Chính phủ Trung Quốc đã chịu chi hơn nhiều.

Lúc này, nhà cầm quyền Trung Quốc dường như không có nhiều lựa chọn. NDT sụt giá nhanh hơn có thể dẫn đến một đợt phá giá mạnh như năm ngoái bị lặp lại, dòng vốn ồ ạt chảy ra ngoài, đe dọa tính ổn định của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Song bất cứ biện pháp nào nhằm tăng cường kiểm soát các dòng vốn để giữ giá NDT rõ ràng sẽ làm tổn thương nền kinh tế (ảnh hưởng lớn tới xuất khẩu), đồng thời là bước cản đối với những nỗ lực quốc tế hóa đồng NDT nhằm giảm dần khoảng cách với thị trường tài chính quốc tế, vốn phần nào đã được thừa nhận trong thời gian qua (NDT vừa gia nhập rổ tiền SDR).

Thứ duy nhất có thể khiến Bắc Kinh dễ thở hơn phần nào là một đồng Đô la yếu hơn. Đáng buồn là điều này lại không nằm trong tầm quyết định của Chủ tịch Tập Cận Bình cùng các cộng sự.

Nghi Điền

Let's block ads! (Why?)

Tỷ giá USD/VND ngày 06/12: Bật nhảy cao

Thị trường giao dịch ngoại tệ đô la Mỹ sáng nay tiếp tục ghi nhận mức giá giao dịch cao tại tất cả các ngân hàng. Nhìn chung, tỷ giá nhỉnh hơn phiên trước khoảng 20 – 30 đồng cả hai chiều mua – bán.

Sáng nay, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm tại mức 22.120 đồng – tăng nhẹ so với ngày hôm qua, giá sàn đang giữ mức 21.456 đồng và giá trần 22.784 đồng.

Về phía các ngân hàng thương mại, Vietinbank đang niêm yết tỷ giá mua vào ở mức cao nhất thị trường với 22.695 đồng đổi 1USD và 22.765 đồng chiều bán, tăng 30 đồng mỗi chiều so với đầu giờ sáng qua.

Vietcombank điều chỉnh tăng thêm 20 đồng chiều mua và 30 đồng chiều bán, lên áp dụng lần lượt ở mức 22.685 – 22.765 VND/USD.

Mạnh tay hơn khối quốc doanh, Techcombank và Eximbank đồng loạt nâng mức tỷ giá cả hai chiều thêm 30-40 đồng chỉ sau một phiên giao dịch, yết giá đô la Mỹ chiều mua là 22.670 – 22.680 đồng và chiều bán là 22.770 đồng.

Giá mua đồng bạc xanh trên thị trường chính thức sáng nay dao động trong khoảng 22.650 – 22.685 VND/USD, chiều bán ra phổ biến trong khoảng 22.760 – 22.765 đồng đổi 1USD.

Hiểu Minh

Let's block ads! (Why?)

Rùng mình với tục kết hôn cùng người chết trên thế giới

Hầu hết, ở các nền văn hóa trên trái đất, đa phần đều quan tâm đến những người đã chết mà còn độc thân. Niềm tin tín ngưỡng khiến cho những người còn sống lo lắng rằng, những người đã chết mà chưa lập gia đình sẽ vô cùng cô đơn, không có người bầu bạn, vì lí do này, họ có thể sẽ quấy phá người còn sống… Đó cũng là nguyên nhân những phong tục kết hôn với người đã mất được ra đời ở nhiều nước, đặc biệt là các vùng nông thôn. Điều này diễn ra ở một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Sudan, Pháp và thậm chí cả một số vùng của Hoa Kỳ.

Những người còn sống lo lắng rằng, người chết mà chưa lập gia đình sẽ vô cùng cô đơn, không có người bầu bạn, họ có thể sẽ quấy phá người còn sống… Do đó, đám cưới ma được hình thành. (Ảnh minh họa)

Trung Quốc

Vì chính sách 1 con của Trung Quốc nên mà đa phần các gia đình đều cố gắng sinh con trai. Nó là nguyên nhân gây ra cảnh mất cân bằng giới tính trong xã hội. Việc đàn ông thiếu vợ, qua đời khi còn độc thân là điều xảy ra khá nhiều.

Một nghi thức trong đám cưới ma với cô dâu, chú rể làm bằng hình nộm

Theo phong tục của nước này, nếu người con trai chết mà chưa lập gia đình, ở độ tuổi còn trẻ thì cần phải thực hiện một: đám cưới ma. Ở Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, cuộc hôn nhân được thực hiện để giải quyết vấn đề tâm linh của người còn sống. Họ làm như vậy là muốn xoa dịu tâm hồn cô đơn cho những người mất mà chưa lập gia đình, chưa có ai bầu bạn. Ngoài ra, những người còn sống sợ rằng người đã mất vì quá cô đơn sẽ quấy phá, gây ra bệnh tật, hao tổn người và của.Và một đám cưới ma sẽ lấy lại cân bằng cho gia đình.

Đám cưới ma rất tốn kém, giống hệt như đám cưới người thật. Trong ảnh là một cô dâu búp bê được làm để cho kết hôn với người đã chết

Có nhiều mức độ khác nhau của môt cuộc hôn nhân ma. Cơ bản nhất là làm những hình nộm  bằng đất sét, tạc tượng bằng bạc để chôn xuống cạnh người đã mất.

Trong ảnh là xác một cô gái nhà giàu đã chết đang kết hôn với một chàng trai còn sống hẳn hoi

Tuy nhiên, một đám cưới ma hoàn hảo nhất mà người dân các vùng này của Trung Quốc tin chính là phải đào được xác người đã chết lên, tiến hành ăn mặc, trang điểm lộng lẫy và tổ chức hôn lễ. Có như vậy mới mang lại nhiều may mắn và hòa hợp nhất. Đó cũng chính là nguyên nhân gây ra tình trạng đào trộm mộ, đánh cắp xác chết xảy ra ở nước này.

Nhật Bản

Sự khác biệt lớn nhất trong đám cưới ma của Nhật Bản và Trung Quốc chính là việc cô dâu sẽ là búp bê ma. Trước đây, đất nước mặt trời mọc cũng có tục cho các cô gái còn sống kết hôn với các chàng trai đã chết trong đám cưới ma. Tuy nhiên, phong tục này đã được thay đổi vào năm 1930, người đã chết sẽ kết hôn với một con búp bê thay vì người thật. Sự thay đổi này chủ yếu là do đàn ông độc thân chết trong chiến tranh nhiều, quá khó khăn để tìm đủ số cô dâu còn sống cho họ.

Hình tượng búp bê cô dâu được làm trong đám cưới ma ở Nhật Bản

Trong lễ cưới ma, cô dâu búp bê được đặt cạnh bức ảnh của người đàn ông đã chết trong tủ kính.

Pháp

Pháp là quốc gia hiếm hoi có quy định pháp lý rõ ràng trong vấn đề người sống kết hôn với người chết.

Điều 171 Bộ luật dân sự của nước này quy định cho phép các cặp đôi đã từng có hứa hẹn hôn nhân được phép kết hôn sau khi 1 trong 2 người đã chết.

Vào tháng 11 năm 2008, cô Magali Jaskiewicz và anh Jonathan Georgedự định kết hôn với nhau. Ngày 25/11/2008, cả 2 đã đến tòa thị chính để đề nghị kết hôn vào tháng 1 năm 2009. Nhưng không may là 2 ngày sau đó, chú rể thiệt mạng vì 1 tai nạn ô tô. Tuy nhiên sau đó, cô Magali vẫn quyết định tổ chức lễ cưới với anhJonathan.

2 bé gái này chính là con của cặp đôi này.

Đương nhiên để được sự cho phép kết hôn, người còn sống phải chứng minh được rằng trước đây họ đã từng có ý định kết hôn và được sự đồng ý từ gia đình người đã mất. Nếu chứng minh được, đám cưới sẽ được phép diễn ra. Tuy nhiên, nó chỉ là hình thức để giúp họ thành vợ chồng chính nghĩa. Người còn sống hoàn toàn không được hưởng thừa kế hay tài sản của người đã chết sau khi kết hôn. Nhưng nếu người còn sống là phụ nữ mang thai, có con với người đã chết thì sau khi kết hôn với người đã chết đó, con của họ sẽ được hưởng thừa kế.
 

Let's block ads! (Why?)